Cập nhật lần cuối vào 15/04/2026
Khi hệ thống y tế ngày càng hướng đến điều trị toàn diện, câu hỏi không còn là “điều trị xong rồi phục hồi thế nào” mà là phục hồi chức năng cần bắt đầu từ thời điểm nào trong quy trình điều trị.
Đó cũng là vấn đề xuyên suốt được đặt ra tại Hội nghị khoa học năm 2026 của Khoa Kỹ thuật Phục hồi chức năng, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng. Với chủ đề “Phục hồi chức năng toàn diện – Từ chăm sóc nội trú đến giai đoạn phục hồi”, hội nghị diễn ra ngày 11/4/2026 tại Hội trường 2.1, với 15 báo cáo được trình bày trong hai phiên sáng và chiều.

Không chỉ là nơi trình bày các báo cáo chuyên môn, sự kiện còn cho thấy một sự dịch chuyển rõ rệt: phục hồi chức năng đang dần trở thành một phần “song hành” với điều trị, thay vì là bước can thiệp sau cùng như trước đây.

Phát biểu khai mạc, PGS.TS.BS Vũ Hữu Vĩnh – Trưởng khoa Kỹ thuật Phục hồi chức năng nhấn mạnh điều này bằng một ví dụ trực diện: “Một bác sĩ mổ xong mà không có phục hồi chức năng thì cơ quan đó chưa thể hoàn thiện được”. Theo ông, nếu không can thiệp kịp thời ngay từ giai đoạn nằm viện, người bệnh có thể đối mặt với nhiều biến chứng như huyết khối, suy giảm chức năng kéo dài, làm tăng gánh nặng điều trị.”
Người cao tuổi và bài toán “đánh giá nhanh nhưng phải đúng”
Một trong những hướng nghiên cứu thu hút nhiều sự quan tâm là đánh giá và phân tầng nguy cơ ở người cao tuổi – nhóm bệnh nhân có đặc điểm phức tạp và dễ bị tổn thương.
Trong báo cáo của mình, PGS.TS.BS Nguyễn Văn Trí (ĐH Y Dược TP.HCM) giới thiệu mô hình IC-CFCN, tập trung vào bốn yếu tố cốt lõi: bệnh mạn, suy yếu, nhận thức và dinh dưỡng. Nghiên cứu đa trung tâm trên 1.212 ca bệnh cho thấy công cụ này có khả năng dự báo biến cố nội viện khá tốt, với AUC đạt 0,832.

Ở góc độ thực hành, kết quả này mang ý nghĩa đáng kể. Thay vì những bộ công cụ phức tạp, khó triển khai trong môi trường lâm sàng bận rộn, các mô hình như IC-CFCN cho thấy một hướng tiếp cận khác: đơn giản hóa nhưng vẫn giữ được giá trị tiên lượng, ưu tiên các yếu tố cốt lõi và đủ khả thi để áp dụng ngay tại giường bệnh.
Cùng hướng nghiên cứu này, các báo cáo về sức mạnh cầm nắm ở người trên 60 tuổi (CN. Nguyễn Thị Oanh) hay chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối (ThS. Lê Thị Thanh Thanh) tiếp tục bổ sung dữ liệu về chức năng và khả năng phục hồi. Qua đó cho thấy cách tiếp cận không còn dừng ở điều trị bệnh lý, mà dần mở rộng sang đánh giá toàn diện chất lượng sống sau điều trị.
Từ bài test đi bộ đến AI: phục hồi chức năng đang thay đổi ra sao?
Nếu các nghiên cứu về người cao tuổi đặt ra bài toán đánh giá, thì những báo cáo còn lại tập trung vào một câu hỏi khác: can thiệp thế nào để hiệu quả hơn?


Các phương pháp quen thuộc như test đi bộ 2 phút, 6 phút (TS. Nguyễn Thanh Duy) hay các nghiệm pháp đánh giá vận động, kiểm soát thăng bằng, trung tâm áp lực (ThS. Phạm Xuân Hiệp, ThS. Huỳnh Thị Nhi) được nhìn lại dưới góc độ chuẩn hóa và ứng dụng lâm sàng. Những nghiên cứu này không mới về kỹ thuật, nhưng có ý nghĩa ở chỗ giúp định lượng chính xác hơn hiệu quả phục hồi.
Song song đó là các can thiệp chuyên sâu như quản lý phù bạch huyết (ThS. Trần Long Biên) hay phục hồi thăng bằng ở bệnh nhân đái tháo đường (ThS. Hoàng Ngọc Tuyết Trinh), cho thấy phục hồi chức năng đang ngày càng đi vào từng nhóm bệnh cụ thể, thay vì áp dụng chung một mô hình.
Đáng chú ý, một hướng tiếp cận mới cũng bắt đầu xuất hiện: ứng dụng công nghệ và y học chứng cứ. Báo cáo của BS.CKI Nguyễn Quang Khải về việc sử dụng AI mã nguồn mở trong phục hồi chức năng cho thấy lĩnh vực này đang dần chuyển sang tiếp cận dựa trên dữ liệu và cá thể hóa điều trị.
Không còn là “phục hồi sau điều trị”
Từ các báo cáo tại hội nghị, có thể thấy một điểm chung: ranh giới giữa điều trị và phục hồi đang dần bị xóa nhòa.
Phát biểu tại hội nghị, PGS.TS.DS Nguyễn Thị Thu Thủy – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng nhấn mạnh rằng trong bối cảnh hệ thống y tế đang chuyển mình mạnh mẽ, phục hồi chức năng không còn là giai đoạn hậu điều trị đơn thuần mà đã trở thành một phần không thể tách rời trong toàn bộ quá trình chăm sóc sức khỏe. “Từ chăm sóc nội trú, can thiệp sớm đến phục hồi cộng đồng, tái hòa nhập xã hội, tất cả đều đòi hỏi sự liên kết phối hợp đa ngành liên tục và toàn diện”, bà chia sẻ.

Theo bà, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở việc nâng cao chất lượng điều trị, mà còn đòi hỏi đổi mới trong đào tạo, nghiên cứu, cũng như cập nhật các phương pháp tiếp cận hiện đại, gắn với thực tiễn và xu hướng quốc tế. Hội nghị vì vậy không chỉ là dịp cập nhật kiến thức, mà còn góp phần xây dựng môi trường học thuật năng động, thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực phục hồi chức năng.
Sự thay đổi này không chỉ là câu chuyện chuyên môn, mà còn đặt ra những yêu cầu mới về đào tạo, nghiên cứu và phối hợp đa ngành trong hệ thống y tế.
Và có lẽ, điều đọng lại sau hội nghị không chỉ là các con số hay mô hình, mà là một cách nhìn khác: phục hồi chức năng không phải là “bước sau cùng”, mà cần được bắt đầu từ rất sớm trong toàn bộ hành trình điều trị của người bệnh.
Một số hình ảnh tại Hội nghị khoa học 2026 của Khoa Kỹ thuật Phục hồi chức năng:







Hội nghị có sự tham dự của nhiều khách mời, chuyên gia và đại diện các đơn vị trong và ngoài trường:
Về phía khách mời có Th.BS Phạm Dũng – Giám đốc tổ chức phi chính phủ MCMV; CKI.PHCN Lê Thị Phương Dung – Kỹ thuật viên trưởng Bệnh viện Lê Văn Thịnh; CKI.PHCN Võ Anh Khoa – Phó Trưởng khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng, Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM.
Về phía Ban Giám hiệu nhà trường có PGS.TS.DS Nguyễn Thị Thu Thủy – Phó Hiệu trưởng; Đại diện các khoa, phòng, ban có ThS Vũ Hồng Hải – Phó Trưởng khoa Xét nghiệm Y học.
Về phía Khoa Kỹ thuật Phục hồi chức năng có PGS.TS.BS Vũ Hữu Vĩnh – Trưởng khoa; ThS Nguyễn Thị Hương – Phó Trưởng khoa thường trực; ThS Huỳnh Văn Phát – Phó Trưởng khoa.
Ban chủ tọa hội nghị gồm PGS.TS.BS Vũ Hữu Vĩnh – Trưởng khoa Kỹ thuật Phục hồi chức năng, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng; TS Nguyễn Thanh Duy – Chủ nhiệm bộ môn Phục hồi chức năng, Trường Điều dưỡng Kỹ thuật Y học (ĐH Y Dược TP.HCM); TS Võ Quốc Duy – Trường Cao học Khoa học Sức khỏe, Đại học Gunma (Nhật Bản).
Hội nghị còn có sự tham dự của các báo cáo viên, quý đại biểu, giảng viên, học viên và sinh viên.
Loan Lê
Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông




